Thứ ba, ngày 14 tháng bảy năm 2009

Giới thiệu sơ lược về khế ước tiền hôn nhân

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ KHẾ ƯỚC TIỀN HÔN NHÂN


1. “Hợp đồng hôn nhân” , “khế ước tiền hôn nhân” hay “hôn ước”, “hôn khế” là những thuật ngữ dùng để chỉ một loại thỏa thuận về tài chính của một cặp nam nữ trước khi kết hôn. Nội dung của hợp đồng hôn nhân rất đa dạng, có những hợp đồng hôn nhân chỉ để xác định tài sản của vợ chồng tạo lập được trong thời kì hôn nhân, có những hợp đồng hôn nhân chỉ qui định về việc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp li hôn, hay có những hợp đồng hôn nhân qui định cả về việc nếu một bên qua đời thì việc cấp dưỡng với bên kia như thế nào… Hợp đồng hôn nhân là một thỏa thuận được lập bằng văn bản của vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng (quyền sở hữu với tài sản của vợ chồng) trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn đến lúc chấm dứt hôn nhân (hai người li hôn hoặc một trong hai người chết)).
Gần đây xuất hiện thêm thuật ngữ hôn nhân hợp đồng, đây là một dạng thỏa thuận chung sống (qui định về thời điểm bắt đầu chung sống và thời điểm kết thúc việc chung sống, về quyền lợi và nghĩa vụ của hai người trong thời gian chung sống) hôn nhân hợp đồng được cho là hợp pháp ở một số ít các quốc gia hồi giáo, hôn nhân hợp đồng không phải là khế ước tiền hôn nhân.
Cũng có một số khế ước tiền hôn nhân của các ca sĩ, diễn viên nổi tiếng trên thế giới có qui định cả về vấn đề nhân thân hay qui định cả về những chế tài trong hôn nhân (yêu cầu người kia phải trả một khoản tiền nhất định nếu vi phạm những cam kết nhất định trong thời gian chung sống), những thỏa thuận như thế không thuộc phạm vi giới thiệu của bài viết này.
Trong những thập niên gần đây, nhiều quốc gia đã cho phép những cặp vợ chồng chưa lập khế ước tiền hôn nhân trước khi kết hôn có thể lập một bản thỏa thuận về tài sản vợ chồng, về cơ bản nó chỉ khác khế ước tiền hôn nhân ở thời điểm lập, nó được gọi là “khế ước sau hôn nhân ” (postnuptial agreement). Tuy nhiên những bản thỏa thuận đó không thuộc phạm vi giới thiệu của bài viết này.
2. Nhìn chung khế ước tiền hôn nhân có những đặc điểm sau:
*Chủ thể trong quan hệ do khế ước tiền hôn nhân điều chỉnh phải là vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp (trường hợp chung sống như vợ chồng hay trường hợp hôn nhân thực tế dù là hợp pháp, hai người năm nữ không thể lập khế ước tiền hôn nhân).
*Khế ước tiền hôn nhân phải do hai người nam nữ tự nguyện thỏa thuận.
*Khế ước tiền hôn nhân phải được lập trước khi kết hôn.
*Khế ước tiền hôn nhân phải được xác nhận tính hợp pháp của cơ quan tư pháp, cơ quan nhà nước, hoặc cơ quan công chứng (tùy theo qui định của pháp luật từng quốc gia).
*Dù khế ước tiền hôn nhân được lập trước thời kì hôn nhân nhưng nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân.
*Trong khế ước tiền hôn nhân phải xác định rõ khối tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng.
*Trong khế ước tiền hôn nhân có thể xác định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các giao dịch với bên thứ ba.
*Khế ước tiền hôn nhân có tính ổn định cao, việc thay thế hủy bỏ nó là phải theo những thủ tục chặt chẽ.
3. Có lẽ khế ước tiền hôn nhân đầu tiên đã được xuất hiện từ thời La Mã cổ đại dưới hình thức thỏa thuận hôn nhân - nuptias consensus facit trong hôn nhân không dưới quyền của người chồng - sine manu (hình thức hôn nhân này tồn tại trước thời hoàng đế Justinian) hoặc thỏa thuận điều kiện về của hồi môn - stipuliatio vào cuối thời kì cộng hòa (khoảng thế kỉ thứ 2 trước công nguyên).
Dưới thời La Mã không có khối tài sản nào được coi là tài sản chung bởi quyền gia trưởng của người chồng gần như tuyệt đối (đặc biệt trong hôn nhân cum manu – hôn nhân dưới quyền của người chồng), tất cả tài sản của gia đình đều bị coi là tài sản của người chồng, thậm chí vợ con cũng được coi là tài sản của chồng, người chồng có thể kiện đối với vợ theo hình thức kiện vật quyền (actio in rem). Hôn nhân sine manu được đánh giá là một hình thức giải phóng người phụ nữ khỏi quyền lực (manus) của người chồng, hôn nhân được thiết lập trên cơ sở của nuptias consensus facit . Nuptias consentus facit chỉ xuất hiện trong hôn nhân sine manu và thực chất nó chỉ là một thỏa thuận ghi nhận và phân định khối tài sản riêng của người vợ có trước thời kì hôn nhân với tài sản trước và trong thời kì hôn nhân (khối tài sản này được coi là tài sản của người chồng), theo đó người vợ hoàn toàn được tự chủ trong quan hệ tài sản, người chồng chỉ có thể thực hiện quản lí tài sản riêng của vợ trên cơ sở hợp đồng ủy quyền quản lí của người vợ .
Vào cuối thời Cộng hòa để ngăn ngừa việc cưới vợ nhằm lấy của hồi môn, sau đó li dị, luật La Mã đã qui định: trước khi kết hôn cho phép bố mẹ hoặc người chủ hộ (Pater familias) của cô dâu thỏa thuận điều kiện về của hồi môn nếu trường hợp li dị hoặc người chồng chết trước thì của hồi môn được trả lại cho vợ . Thỏa thuận đó được gọi là stipuliatio, thỏa thuận stipuliatio thường có nội dung sau:
- của hồi môn sẽ thuộc về chồng hoặc nhà chồng nếu như vợ chết
- hoặc của hồi môn sẽ được trả lại cho bố mẹ vợ nếu như vợ chết trước.
- trong trường hợp người chồng chết thì của hồi môn buộc phải trả lại cho bố đẻ hoặc pater familias của vợ .
Nuptias consentus facit hay stiputliatio thực chất cũng chưa mang tất cả những đặc điểm của khế ước tiền hôn nhân nhưng cũng mang những yếu tố sơ khai ban đầu của khế ước tiền hôn nhân.
4. Khế ước tiền hôn nhân có lẽ là sản phẩm dài của một quá trình lịch sử đấu tranh và dung hòa của các truyền thống văn hóa, tư tưởng tôn giáo (ở đây là ki tô giáo - tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất từ trước tới nay ), quyền lực nhà nước và quyền tự do của con người.
Vào thời kì khởi thủy của tôn giáo này, quan niệm về hôn nhân trong Ki tô giáo chịu ảnh hưởng của hai truyền thống: truyền thống Do Thái và truyền thống Roma . Theo truyền thống Do Thái, tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng trong hôn nhân, nó được thể hiện thông qua các nghi lễ các lời chúc tốt lành. Người Do Thái cử hành hôn nhân thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là lễ đính hôn việc cử hành lễ đính hôn bao gồm cả việc đọc kinh chúc phúc, giai đoạn hai là hôn lễ, cử hành khoảng một năm sau lễ đính hôn với những nghi lễ long trọng. Khi làm lễ kết hôn cho một đôi nam nữ ở nhà thờ, người giáo trưởng nói với họ “phải nhớ rằng người chồng là chủ gia đình, nhưng đồng thời cũng phải nhớ rằng chủ nhân trong gia đình cũng phải là người vợ. Và bao giờ cũng phải nhớ điều đó”. Giáo lí Do Thái coi vợ chồng là bình đẳng và họ phải biết nhượng bộ nhau, thông cảm với nhau: như vậy hạnh phúc sức khỏe và sự thịnh vượng sẽ mãi mãi tồn tại trong gia đình . Trong khi đó truyền thống Roma lại coi trọng sự thỏa thuận, chính quyền Roma không can thiệp vào sự cử hành các nghi lễ, họ tôn trọng các phong tục của các dân tộc sống trên đế quốc La Mã tuy nhiên các luật gia La Mã lại sớm ấn định các yếu tố pháp lí phòng khi xảy ra các trường hợp kiện tụng . Vì thế nên nếu ai muốn cử hành hôn lễ theo nghi thức nào cũng được nhưng bắt buộc phải có sự thỏa thuận, nếu như chưa có sự thỏa thuận công khai thì luật pháp coi như hai người chưa phải là vợ chồng của nhau. Thời kì đầu này có lẽ ki tô giáo chịu ảnh hưởng của truyền thống Do Thái nhiều hơn, điều này thể hiện ở các quan điểm về hôn nhân trong kinh Tân ước: người chồng không được đối xử với người vợ như là một món đồ sở hữu theo quan điểm Roma, vợ chồng phải chung thủy với nhau, việc li hôn bị cấm.
Thời Trung cổ, đế quốc Rôma sụp đổ, các cơ cấu xã hội bị đảo lộn, quyền lực chuyển dần về tay giáo hội. Lúc này các giám mục không những chỉ phải giảng giải về đạo đức trong hôn nhân, không phải chỉ lo khuyên bảo, răn dạy cho các cặp đôi mà nhiều lần phải đảm đương vai trò của pháp luật, thêm vào đó để dung hòa xung đột với dân truyền thống của dân Giecmanh, việc sự thỏa thuận trong hôn nhân đã được khẳng định rõ ràng trong giáo luật. Ngoài ra việc khẳng định sự thỏa thuận trong hôn nhân cũng nhằm tới những vấn đề xã hội thực tiễn nữa: khi nhấn mạnh tới sự thỏa thuận của đôi vợ chồng trong hôn nhân, Giáo hội muốn bài trừ một hủ tục đương thời trong đó hôn nhân do cha mẹ xếp đặt: hôn nhân là cơ hội để các họ tộc kết nghĩa tăng thêm vây cánh, và do đó chỉ chú ý tới lợi lộc vật chất của gia đình chứ chẳng màng tới hạnh phúc của đôi vợ chồng . Và để sự thỏa thuận này được thực hiện nghiêm túc, giáo luật cho rằng sự thỏa thuận cần diễn ra theo thể thức pháp định thì mới có giá trị. Sang thế kỷ 13, quan điểm của tôn giáo lại cho rằng sự thỏa thuận là nguyên nhân tác thành của giá thú nhưng không phải là bản chất của nó. Đối tượng của sự thỏa thuận chính là sự tương giao vợ chồng mang theo những nghĩa vụ và quyền lợi căn bản của hôn nhân, và vì thế thỏa thuận này đã bao hàm cả những vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (tất nhiên là thời kì này chỉ chấm dứt khi một người đã chết bởi hôn nhân công giáo là bất khả phân li). Chính vì vậy nên mới nói rằng khế ước tiền hôn nhân dựa trên cơ sở quan niệm của các nhà lập pháp phương tây (thực chất là xuất phát từ quan niệm của các giám mục) theo họ hôn nhân thực chất chỉ là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự khác ở tính chất long trọng khi thiết lập.
Ngoài ra hôn nhân công giáo có hai đặc điểm là một vợ một chồng và bất khả phân li nên giáo hội không cho phép việc li hôn, dưới thời trung cổ do giáo hội nắm quyền nên pháp luật các nước cũng không cho phép vợ chồng li hôn. Tuy nhiên trong đời sống chung vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn và nhiều trường hợp mâu thuẫn đó dẫn đến tình trạng vợ chồng không muốn chung sống hay không thể chung sống với nhau nữa. Lúc đó cần có một giải pháp để giải tỏa xung đột giữa vợ chồng và việc sống li thân cùng với sự biệt lập về tài sản là cần thiết. Vậy nên việc qui định trước về vấn đề tài sản của vợ chồng là cần thiết để đảm bảo tự do cho cá nhân.
4. Cùng với thời gian, mục đích hướng tới của khế ước tiền hôn nhân trong thời đại ngày nay đã khác xa với thời đại trung cổ, có lẽ nó gần hơn với mục đích của khế ước tiền hôn nhân dưới thời La mã cổ đại - như mọi giá trị khác từ khi bước sang thời kì phục hưng. Hiện nay đã có rất nhiều quốc gia đã qui định về khế ước tiền hôn nhân, không chỉ là các quốc gia theo Thiên chúa giáo mà có cả các quốc gia Hồi giáo (Phi - lip - pin, I – sra - el) hay phật giáo (Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan), không chỉ các quốc gia châu Âu, châu Mĩ mà có cả các quốc gia châu Úc (Úc, Niu – Di – Lân), Á (Ai cập, Sing – ga - po, Nhật Bản), Phi (Nam Phi, Jam – mai – ca)…Có những quốc gia tuy chưa chính thức qui định về khế ước tiền hôn nhân mà chỉ qui định về một dạng thỏa thuận tương đối giống với hợp đồng hôn nhân nhưng được lập sau ngày kết hôn, Trung Quốc là một trong những quốc gia như vậy, xem xét các qui định về tài sản vợ chồng đặc biệt là các qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong pháp luật Việt Nam, dạng thỏa thuận này cũng đang có chiều hướng được thừa nhận.

Thứ hai, ngày 11 tháng năm năm 2009

Chế độ tài sản ước định_ trợ giúp

Xin chào các bạn, hiện giờ Ben đang nghiên cứu vấn đề "chế độ tài sản ước định - khả năng và thách thức với việc áp dụng vào xã hội Việt Nam hiện đại" (trong quá trình thực hiện tên đề tài có thể được thay đổi đôi chút)
Ben rất mong được các bạn chia sẻ và đóng góp ý kiến.
Xin vui lòng liên lạc với Ben qua email: phamlinhnham@gmail.com hoặc Y!M: mahnhnilmahp
Chân thành cảm ơn các bạn!

* Mình đang rất cần các tài liệu về lịch sử La mã, về hôn nhân La mã (đặc biệt là sine manu, nuptias consentus facit, stiputliatio) tài liệu về lịch sử hôn nhân công giáo (không phải là những tài liệu được tìm dễ dàng trên internet).
* Rất mong nhận được ý kiến đóng góp và chia sẻ từ các bạn.
Ben

Chủ nhật, ngày 21 tháng chín năm 2008

Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân_lời kết

LỜI KẾT
Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân hay thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có lẽ hơi xa lạ với những người có nếp nghĩ và quan niệm “truyền thống”, có thể họ cho rằng như thế là trái với đạo lí của người Việt, là không phù hợp với văn hóa của người Việt. Điều này khiến người viết nhớ tới truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, cuộc hôn nhân đầu tiên của dân tộc Việt Nam, cuộc hôn nhân của hai người đã sinh ra đồng bào Việt Nam; trong cuộc hôn nhân đó, tổ phụ và tổ mẫu của chúng ta không những đã phân định về tài sản: một người lên rừng, một người xuống biển, mà thậm chí còn phân định về quyền nuôi con: năm mười người con theo cha, năm mươi người con theo mẹ. Thỏa thuận về tài sản trong thời kì hôn nhân, theo người viết, không phải là không có một mối liên hệ nào với truyền thống.
Từ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là cả một bước tiến dài. Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã được qui định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 nhưng việc áp dụng nó trong thời gian Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực là vô cùng hạn chế, đến bây giờ việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mới có thể nói là đã được áp dụng rộng rãi hơn. Có lẽ cũng như vậy việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng như đã được đề cập trong bài viết tuy có hợp pháp nhưng việc áp dụng nó cũng sẽ là một vấn đề còn nằm trong tương lai, tuy nhiên người viết tin tưởng với tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ trở nên phổ biến và hữu ích cho nhiều người.
Đề tài “Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân” đã được hoàn thành với những nội dung chủ yếu sau:
- Khái quát được khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân;
- Khái quát về các chế định chia tài sản chung trong các qui định pháp luật của Việt Nam qua các thời kì và phân tích toàn bộ các qui định pháp luật hiện hành để thấy được hướng mở rộng của chế định này;
- Khái quát về một số chế định tương tự trong pháp luật của một số nước trên thế giới, để thấy được việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là phù hợp với xu hướng hiện nay;

- Đưa ra và chứng minh tính hợp pháp và hợp lí của thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đồng thời kiến nghị về việc cụ thể hóa thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân để việc áp dụng nó được dễ dàng và phổ biến.

Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân_chương 3



Chương 3
VẤN ĐỀ THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
3.1. THỎA THUẬN NHẬPT TÀI SẢN RIÊNG CỦA MỘT BÊN VỢ HOẶC CHỒNG VÀO TÀI SẢN CHUNG
Thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề ít được bàn tới và cũng ít được qui định cụ thể như thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Có lẽ ít trường hợp mà thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ chồng vào tài sản chung trở nên cần thiết bởi nếu như những tài sản riêng (trừ những tài sản có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân) được đem giao dịch hay biến đổi thì đa phần sẽ tự trở thành tài sản chung theo qui định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng. Hơn nữa do sự đặc biệt của quan hệ vợ chồng, do sự gắn kết đặc biệt giữa vợ chồng, sự gắn kết vì tình yêu, vì sự phát triển giống nòi nên vợ chồng coi nhau như một, cùng hướng tới một mục đích là phát triển kinh tế để gia đình được sống sung túc đầy đủ, tạo điều kiện tốt nhất để con cái học hành vì thế mà vợ, chồng luôn muốn đem tất cả những gì mình có để phục vụ cho các nhu cầu của gia đình, không muốn giữ của riêng, nên việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được coi như là một điều đương nhiên.
Nhưng để tránh những tranh chấp về tài sản sau này, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 70) đã qui định rõ là việc nhập những tài sản có giá trị lớn, nhà ở, quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chữ kí của cả hai vợ chồng, trong trường hợp pháp luật qui định thì phải công chứng, chứng thực
[1]. Tuy nhiên với những trường hợp vợ, chồng chưa từng muốn nhập tài sản riêng vào tài sản chung và đối với tài sản đó thì việc nhập không bắt buộc phải lập thành văn bản nhưng lại có tranh chấp[2] về tài sản đó thì việc chứng minh nó là tài sản riêng của một người là vô cùng khó khăn và phức tạp bởi đời sống chung của vợ chồng là vô cùng phức tạp. Trong trường hợp đó nguyên tắc nếu không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung[3] sẽ được áp dụng.
Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung có thể được tiến hành vào bất cứ lúc nào trong thời kì hôn nhân nên vợ chồng hoàn toàn có thể nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung ngay khi đăng kí kết hôn.
Việc hai người nam nữ chuẩn bị kết hôn thỏa thuận trước về việc nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung (tức là hai người lập bản thỏa thuận trước khi kết hôn và xác định thời điểm có hiệu lực là khi quan hệ hôn nhân được xác lập) không được qui định trong pháp luật Việt Nam, tuy nhiên theo người viết thì điều này hoàn toàn hợp lí, mặc dù có thể nó không được công nhận trong pháp luật hiện hành.
3.2. THỎA THUẬN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
3.2.1. Những ý kiến về sự hợp lí và hợp pháp của các qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Như đã nói ở những phần trước, việc qui định cho vợ chồng có thể chia tài sản bằng cách thỏa thuận sẽ tạo điều kiện cho vợ chồng được thuận tiện trong việc giao dịch, Nghị định 70 đã qui định tương đối đầy đủ và chi tiết về việc này, tuy nhiên có tương đối nhiều ý kiến xoay quanh tính hợp lí và hợp pháp của các qui định về thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của Nghị định này.
Thứ nhất: qui định trong thời kì hôn nhân, nếu có lí do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lí do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào?
[4]
Thứ hai: Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 trở thành hình thức[5].
Thứ ba: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống li thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình.
[6]
Thứ tư: Qui định tại khoản 2 điều 8 Nghị định 70 hoàn toàn mâu thuẫn với qui định tại điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, do đó cần kịp thời sửa đổi, hay phải vô hiệu hóa qui định này[7].
Ngoài ra còn những ý kiến khác về những vướng mắc khi áp dụng qui định này và cần luật có sự qui định cụ thể hơn.
Theo người viết có thể lí giải về tính hợp lí, hợp pháp của các qui định tại Nghị định 70 như sau:
Về tính hợp pháp:
Nghị định 70 là Nghị định qui định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên nó được soạn thảo cùng với dự án luật để trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi luật có hiệu lực
[8], việc nó thực sự mâu thuẫn với điều 27 có lẽ là khó xảy ra vì nó được soạn thỏa cùng thời điểm với dự án luật. Xét về việc mâu thuẫn với điều 27 thì điều 30 cũng là một điều có thể xem là mâu thuẫn với điều 27 tuy nhiên do nó cùng trong một văn bản nên không thể nói là điều nào trái với điều nào và cần phải vô hiệu hóa điều nào, việc đó cho thấy qui định ở điều 27 không phải là một qui định cứng nhắc, nó có sự linh hoạt của nó. Hơn nữa, việc giải thích pháp luật để làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các qui định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất là điều vô cùng cần thiết, thực tế thì Chính phủ và tòa án là hai cơ quan đang giải thích pháp luật nhiều và thường xuyên nhất ở nước ta[9], nên những qui định ở Nghị định 70 được coi là cách giải thích các qui định ở Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình qui định về việc chia tài sản trong thời kì hôn nhân bắt buộc phải có lí do chính đáng chứ không qui định là tài sản để chia bắt buộc phải là tài sản đã thuộc sở hữu chung của vợ chồng về mặt thực tế, điều đó có nghĩa là luật không hề cấm việc chia những tài sản chắc chắn sẽ thuộc về vợ chồng trong tương lai. Điều đó cũng có nghĩa là theo luật thì những tài sản chắc chắn sẽ thuộc sở hữu của vợ chồng trong tương lai như thu nhập hợp pháp có thể được thỏa thuận chia. Việc chia với những tài sản chắc chắn sẽ thuộc về vợ chồng trong tương lai không có gì là trái luật. Qui định của khoản 2 điều 8 chỉ là nêu lên qui tắc chia (thu nhập hợp pháp của ai thì thuộc sở hữu riêng của người đó) trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận về những khoản thu nhập đó.
Có thể khẳng định rằng những qui định của Nghị định 70 hoàn toàn hợp pháp.
Về tính hợp lí:
Dễ thấy rằng, nếu không có qui định ở khoản 2 điều 8 mà chỉ có qui định của điều 27, điều 30 thì có thể hình dung ra như sau: sau khi chia tài sản chung, chỉ có hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia là tài sản riêng, người có tài sản được tự do định đoạt với hoa lợi lợi tức đó
[10] hay người có tài sản riêng cũng có thể cho, tặng (không có đền bù) tài sản đó, nhưng nếu bán hoặc trao đổi nó lấy một tài sản khác, thì tài sản do giao dịch đó sẽ quay trở lại thành tài sản chung, vậy thì có thể nói rằng, chia mà để tài sản “chết” thì không sao, còn nếu cho nó được giao dịch thì thực sự không nên chia làm gì. Vậy thì chia để làm gì? Nếu chỉ để thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng hơn cho việc định đoạt tài sản hay thực hiện giao dịch thì hoàn toàn có thể chọn giải pháp làm bản ủy quyền chứ không cần thiết phải chia. Như thế nếu không có khoản 2 điều 8 thì những qui định trong Luật Hôn nhân và Gia đình mới trở nên bất hợp lí.
Một số ý kiến băn khoăn về quyền lợi của người thứ ba sẽ không được bảo đảm, tuy nhiên theo người viết thì đã có quá nhiều cơ chế bảo đảm cho quyền lợi của người thứ ba trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng được chia và ngay cả trong Luật Hôn nhân và Gia đình cũng có các qui định để bảo đảm quyền lợi cho người thứ ba, không nên hạn chế việc chia tài sản chung chỉ vì lo rằng quyền lợi của người thứ ba không được bảo đảm.
Một số ý kiến cho rằng qui định này sẽ không đảm bảo được lợi ích của gia đình, nhưng theo người viết thì đã có qui định về chịu trách nhiệm liên đới trong giao dịch vì nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc chia tài sản chung này theo những qui định pháp luật thì sẽ không phải là phủ nhận hoàn toàn những lợi ích chung của gia đình.
Vì vậy mà người viết cho rằng qui định của Nghị định 70 hoàn toàn hợp lí và hợp pháp.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân có thể tiến hành vào bất cứ lúc nào trong thời kì hôn nhân nếu có lí do chính đáng, nên vợ chồng hoàn toàn có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ngay sau khi kết hôn với một lí do chính đáng phù hợp.
3.2.2. Hạn chế về mặt xã hội của việc chia tài sản chung
Trên thực tế việc vợ chồng chia tài sản chung đã phản ánh những mâu thuẫn của họ trong việc sử dụng, quản lí và định đoạt tài sản nên việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân rất có thể sẽ làm cho tình cảm vợ chồng trở nên sứt mẻ bởi nó chưa được người ta đón nhận và áp dụng trong hoàn cảnh tích cực. Người ta chỉ áp dụng qui định này khi bắt đầu có mâu thuẫn và lại áp dụng nó với mục đích để tách bạch hoàn toàn tài sản của vợ chồng.
Cũng theo quan niệm của người Việt Nam thì việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân có nhiều điều bất tiện.
Thứ nhất, theo phong tục Việt Nam, tài sản trong nhà là của chung, để vun đắp gia đình, cho con cháu đời sau, là niềm vinh danh cho cha mẹ chứ không phải của riêng đôi vợ chồng nên việc chia chác có thể sẽ phá vỡ nếp nhà.
Thứ hai, trong xã hội Việt Nam hiện nay, người ta thường chỉ chia tài sản sau li hôn, nếu vợ chồng chia khi đang chung sống, dễ bị mang tiếng là hôn nhân “có vấn đề”.
Thứ ba, tình cảm vợ chồng thiêng liêng, mà tài sản chung là yếu tố cơ bản, từ đó mới nảy nở nhiều tình cảm tốt đẹp khác. Vì vậy, xét cho cùng, việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân mà không bị cắt về tình cảm là điều không dễ làm. Việc này nếu có tiến hành thì cũng là ở thế “chẳng đặng đừng” mà thôi
[11].
Tất cả những điều đó cho thấy qui định về chia tài sản trong thời kì hôn nhân chưa phát huy tốt được mặt tích cực của nó trong thực tế.
Theo người viết thì sai lầm lớn nhất dẫn đến sự sứt mẻ về tình cảm của vợ chồng là khi thỏa thuận chia tài sản chung họ chỉ nghĩ đến việc tách bạch về tài sản, chỉ nghĩ đến chuyện chia mà không nghĩ đến chuyện nhập, hơn nữa họ lại để mặc cho sự tách bạch hoàn toàn về những khoản thu nhập sẽ phát sinh trong tương lai và chia luôn cả phần thanh toán những nghĩa vụ về tài sản để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Thực tế đó khiến cho việc chỉ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trở nên không được coi là tốt đẹp trong quan niệm của người Việt.
3.3. THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
Như đã nói ở trên việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có thể dẫn đến những sứt mẻ về tình cảm bởi người ta chỉ nghĩ tới một chữ “chia” khi cần thỏa thuận về tài sản. Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thực ra là một giải pháp đã tồn tại nhưng chưa được khai thác.
3.3.1. Nội dung và hình thức
Nội dung
Vợ chồng có thể thỏa thuận một phần hay tất cả những tài sản sau là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng:
- tài sản có trước hôn nhân;
- tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân;
- thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Hình thức, thời điểm có hiệu lực và sự thay thế, hủy bỏ của văn bản
Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản ghi rõ ngày tháng năm lập văn bản, lí do thỏa thuận, có chữ kí của cả hai vợ chồng, có người làm chứng theo qui định của pháp luật và phải được công chứng. Văn bản thỏa thuận này có thể được được lập tại bất cứ thời gian nào trong thời kì hôn nhân trừ những trường hợp pháp luật không cho phép.
Văn bản thỏa thuận này có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng, hoặc từ thời điểm có hiệu lực được ghi trong văn bản (với điều kiện thời điểm đó sau thời điểm công chứng một thời gian hợp lí và pháp luật không có qui định bắt buộc về thời điểm có hiệu lực).
Vợ chồng có thể thỏa thuận hủy bản thỏa thuận cũ để thay thế bằng một bản thỏa thuận mới trong trường hợp có lí do chính đáng như phát sinh thêm những tài sản mới mà vợ chồng muốn thỏa thuận về những tài sản đó hoặc lí do chính đáng khác. Bản thỏa thuận mới phải lập thành văn bản, ghi rõ ngày tháng năm lập, có chữ kí của cả hai vợ chồng, có người làm chứng theo qui định của pháp luật, phải ghi rõ là thay thế cho văn bản thỏa thuận nào, và phải được công chứng. Hiệu lực của bản thỏa thuận mới này được tính từ thời điểm công chứng, hoặc thời điểm có hiệu lực được ghi trong văn bản (với điều kiện thời điểm đó sau thời điểm công chứng một thời gian hợp lí và pháp luật không có qui định bắt buộc về thời điểm có hiệu lực). Bản thỏa thuận cũ hết hiệu lực từ thời điểm có hiệu lực của bản thỏa thuận mới.
Vợ chồng có thể thỏa thuận hủy bản thỏa thuận cũ mà không lập một bản thỏa thuận mới. Trong trường hợp này việc hủy phải được ghi nhận thành văn bản, ghi rõ ngày tháng năm lập văn bản, có chữ kí của vợ chồng, có người làm chứng theo qui định của pháp luật, phải được công chứng, thời điểm có hiệu lực được tính từ thời điểm công chứng hoặc thời điểm có hiệu lực được ghi trong văn bản (với điều kiện thời điểm đó sau thời điểm công chứng một thời gian hợp lí và pháp luật không có qui định bắt buộc về thời điểm có hiệu lực). Trong trường hợp vợ chồng hủy bản thỏa thuận về tài sản những tài sản đã hiện hữu mà trong bản thỏa thuận đã hủy xác định là tài sản riêng của vợ chồng thì được coi là tài sản riêng của vợ, chồng trừ trường hợp có thỏa thuận khác; những tài sản đã hiện hữu mà trong bản thỏa thuận đã hủy xác định là tài sản chung của vợ chồng thì là tài sản chung của vợ chồng. Mọi tài sản được tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ chồng sau khi hủy bản thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng (hoa lợi lợi tức phát sinh không phân biệt từ tài sản riêng hay chung của vợ chồng đều là tài sản chung của vợ chồng).
3.3.2. Tính hợp pháp
Về nội dung
Theo các qui định của pháp luật thì có thể phân loại các tài sản của vợ chồng theo các nguồn gốc sau đây:
- Tài sản có được trước khi kết hôn;
- Tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân;
- Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (bao gồm cả hoa lợi lợi tức từ tài sản chung và tài sản riêng);
- Tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng;
- Tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung.
Có thể thấy sự thỏa thuận hợp pháp của vợ chồng đối với các loại tài sản trên được xét qua bảng sau:(đính kèm)
Nhìn vào bảng trên (đính kèm) và kết hợp với các qui định pháp luật ta thấy.
Thứ nhất: việc thỏa thuận của vợ chồng với một loại tài sản trong một loại văn bản là hợp pháp.
Thứ hai: việc thỏa thuận này được lập vào bất cứ thời điểm nào trong thời kì hôn nhân cũng được coi là hợp pháp (như đã nói ở các phần trên).
Thứ ba: việc thỏa thuận với những tài sản chưa hiện hữu nhưng chắc chắn sẽ phát sinh trong thời kì hôn nhân là hợp pháp (như đã nói ở các phần trên).
Thứ tư: luật cũng không có qui định cấm viết nhiều thỏa thuận trong một văn bản.
Thứ năm: Cho dù việc chia là phải có lí do chính đáng nhưng qui định về lí do chính đáng này hoàn toàn rất “mở”, hơn nữa nếu thực sự không có lí do gì là chính đáng thì vợ chồng sẽ không cần phải thỏa thuận về tài sản, vả lại nếu vợ chồng thỏa thuận về tài sản với lí do hoàn toàn không chính đáng như để trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản thì bản thỏa thuận sẽ bị coi là vô hiệu.
Chính vì thế mà văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng có nội dung hoàn toàn không trái với các qui định của pháp luật.
Về hình thức
Hình thức và hiệu lực của bản thỏa thuận này được chặt chẽ hơn so với thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng, thỏa thuận nhập tài sản chung của vợ chồng. Điều này chỉ càng khẳng định tính hợp pháp của văn bản thỏa thuận này.
Cũng dễ dàng nhận thấy là việc hủy hay thay thế bản thỏa thuận về tài sản được tiến hành khi có các điều kiện tương đương và với hình thức tương đương của văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng, thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân nên nó hoàn toàn phù hợp với các qui định pháp luật về hình thức.
Có thể nó rằng bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là hợp pháp bởi nó thực chất là sự thể hiện cả về hình thức và nội dung giữa các thỏa thuận đã được thừa nhận một cách rõ ràng trong các qui định pháp luật.
Thực ra những tài sản do được tặng cho chung, thừa kế chung, tặng cho riêng, thừa kế riêng đã hiện hữu thì hoàn toàn có thể thỏa thuận được bằng bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Tuy nhiên với nguyên tắc tôn trọng ý chí của chủ tài sản nên những tài sản này phải được định đoạt theo ý chí của chủ tài sản là tặng cho chung, thừa kế chung, hay tặng cho riêng, thừa kế riêng cho vợ chồng, sau khi tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng thì vợ chồng mới có thể định đoạt, hơn nữa sự hiện hữu của những tài sản này trong khối tài sản chung hay riêng của vợ chồng là điều chưa thể chắc chắn trước. Chính vì lí do đó mà người viết cho rằng không thể đưa nó vào văn bản thỏa thuận được.
Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trước hôn nhân nhưng chỉ có hiệu lực khi quan hệ vợ chồng được xác lập, theo người viết là có thể có và trong một số trường hợp thì cũng có thể là hợp lí, tuy nhiên khó chứng minh được tính hợp pháp của nó .
3.3.3. Tính hợp lí
Cùng với sự biến đổi của tình hình kinh tế, xã hội, các vấn đề trong gia đình ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, gia đình cũng dần dần thay đổi và mang một diện mạo mới, sở hữu của các thành viên trong gia đình cũng dần có sự thay đổi.
Theo báo cáo tóm tắt kết quả điều tra gia đình năm 2006 thì hoạt động sản xuất kinh doanh do gia đình như một đơn vị kinh tế thực hiện có xu hướng giảm, hoạt động kinh tế do cá nhân thực hiện ngoài gia đình có xu hướng tăng lên. Sự thay đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hóa đã mang lại cho gia đình một luồng sinh khí mới: thu nhập, mức sống, mức hưởng thụ, trình độ tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần, sự cập nhật thông tin, sự bình đẳng và dân chủ của hai vợ chồng ngày càng được nâng cao. Vợ chồng không cùng làm kinh tế như trước nữa, họ theo đuổi những con đường riêng và có những hoạt động kinh tế khác nhau. Nên họ có thu nhập riêng, có tài khoản riêng, sự tiêu dùng đôi khi cũng là riêng, họ không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như gia đình truyền thống. Phù hợp với thời cuộc thì thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ tạo điều kiện cho vợ chồng được chủ động hơn trong xã hội hiện đại là cần thiết.
Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân cũng sẽ có tác dụng tích cực đến hạnh phúc gia đình. Tiền bạc được coi là một mối đe dọa đến hạnh phúc gia đình
[12], tốt nhất để tránh được những mâu thuẫn và rủi ro sau này, vợ chồng nên cùng ngồi bàn bạc và thống nhất về vấn đề tài sản. Việc đó có thể sẽ làm giảm đi sự lãng mạn của tình cảm vợ chồng song lại có thể khiến cho hôn nhân trở nên bền vững hơn đảm bảo cho hạnh phúc gia đình.
Bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ giúp tránh được những tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi li hôn. Theo nguyên tắc chia tài sản khi li hôn thì tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu của bên đó, tuy bản thỏa thuận về tài sản trong thời kì hôn nhân không hề đề cập (nói chính xác hơn là vợ chồng không được thỏa thuận trước về việc chia tài sản khi li hôn trong bản thỏa thuận) nhưng việc phân định rõ tài sản nào là tài sản riêng sẽ tránh được việc các bên cố tình khai không chính xác về khối tài sản chung tạo ra những tranh chấp làm cho việc li hôn trở nên căng thẳng.
Bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ là một giải pháp để người đã có con riêng bảo vệ quyền lợi cho con riêng của mình.
Tất nhiên chỉ những cặp vợ chồng nào thấy thực sự cần thiết thì mới lập bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân được phổ biến cũng sẽ không phá vỡ sự ổn định của xã hội. Nếu bản thỏa thuận đó làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người thứ ba thì người đó cũng có quyền yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu.
Trên thế giới thỏa thuận về tài sản của vợ chồng là rất bình thường và phổ biến, thậm chí người ta còn làm bản thỏa thuận trước khi kết hôn, thỏa thuận dự liệu về tài sản trong các trường hợp một người chết trước, trong trường hợp li hôn, thỏa thuận cả về vấn đề cấp dưỡng... Ngay cả Trung Quốc, một nước xã hội chủ nghĩa cũng đã cho phép vợ chồng được qui ước về tài sản. Việc phổ biến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng cũng là điều cần thiết trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay.
Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân khi áp dụng rộng rãi sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam bớt những trở ngại về tâm lí khi quyết định tham gia các công ước quốc tế có liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng
[13]. Theo người viết, việc tham gia các công ước quốc tế cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá trình độ hội nhập của một quốc gia.
Theo người viết, thỏa thuận về tài sản của vợ chồng bước đầu sẽ được phổ biến trong những gia đình hiện đại, giàu có ở thành thị, rồi mới có khả năng phổ biến tiếp.
3.3.4. Kiến nghị của người viết
Mặc dù thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là không hề trái với các qui định của pháp luật, song để tạo điều kiện cho việc áp dụng nó, theo người viết tòa án nhân dân tối cao nên ra Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, và cũng nên bổ sung vào Luật Hôn nhân và Gia đình một điều luật với nội dung:
Vợ chồng có thể thỏa thuận một phần hay tất cả những tài sản sau là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng:
- tài sản có trước hôn nhân;
- tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân;
- thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

[1] Xem khoản 1 điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001.
[2] Có thể tài sản có giá trị không lớn về mặt vật chất nhưng lại có ý nghĩa về mặt tinh thần hoặc có thể một tài sản như thế thì có giá trị không lớn nhưng nhiều tài sản kiểu đó thì lại có giá trị lớn…
[3] Xem khoản 3 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[4]. ThS. Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, đã dẫn
[5] ThS. Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, đd
[6] ThS. Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, đd
[7] ThS. Nguyễn Phương Lan, Hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, Tạp chí Luật học số 6 năm 2002, tr. 22 - 27
[8] Khoản 2 điều 7 Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật: “Văn bản qui định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực”.
[9] TS. Phạm Duy Nghĩa, Nhân chuyện sửa “Luật làm Luật”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 119 tháng 3 năm 2008, tr. 29 – 31
[10] Cũng có thể bị hạn chế theo qui định tại khoản 5 điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[11] Xem: Vợ chồng chia tiền, mất tình - http://www.vnexpress.net ngày 8/5/2007
[12] Xem: Tiền bạc: mối đe dọa hạnh phúc gia đình, www.netlife.com.vn ngày 9/8/2008
[13] Việc có tham gia hay không công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi đã tạo ra khá nhiều tranh luận, với tình hình hiện nay, việc có nên tham gia Công ước 78 (công ước Lahay về chế độ tài sản vợ chồng ngày 14/3/1978) sẽ là vô cùng khó khăn

Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân_chương 2

Chương 2
QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
2.1. TÀI SẢN CHIA
Tài sản để chia phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
2.1.1. Tài sản chung theo qui định của pháp luật
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
Theo qui định này thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm: các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân; các tài sản có được do thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân; các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung; các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân
­Các thu nhập có tính ổn định
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước hết phải kể đến các khoản thu nhập có tính chất ổn định của vợ, chồng như lương, lợi nhuận do hoạt động kinh doanh mang lại, hoa lợi lợi tức có tính chất ổn định như tiền do bán cây ăn quả lâu năm, tiền cho thuê nhà…Những thu nhập này thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để đảm bảo cho cuộc sống chung của gia đình. Theo điều 233 Bộ luật Dân sự thì người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có quyền sở hữu đối với tài sản tạo ra đó
[1], nhưng theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản đó được qui định là thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Theo điều 235 Bộ luật Dân sự thì “chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” như vậy có thể thấy nếu tài sản gốc là tài sản chung thì hoa lợi lợi tức tất nhiên sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu tài sản gốc là tài sản riêng của một người thì hoa lợi lợi tức phát sinh trong trường hợp này cũng thuộc khối tài sản chung theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
­Các thu nhập có tính chất bất thường
Một số thu nhập có tính chất bất thường, sự phát sinh ra nó là bất thường hoặc có thể là bất ngờ với chủ sở hữu. Các thu nhập này có thể là do trúng xổ số, trúng thưởng, được hưởng các loại khuyến mại bất ngờ, hoặc cũng có thể là lợi tức bất thường: cổ phiếu đột ngột lên giá... Trong các trường hợp này chỉ cần quyền sở hữu đối với chủ sở hữu (vợ hoặc chồng hoặc cả hai) được xác lập thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Ví dụ một người mua xổ số trước ngày kết hôn, sau khi kết hôn thì có kết quả và trúng số độc đắc, số tiền thưởng sẽ là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân
Tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân có thể thuộc một trong các trường hợp sau
[2]:
­Tài sản tạo ra do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến (các điều 236, 237, 238 Bộ luật Dân sự)
Trong trường hợp này nếu tất cả các tài sản được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến là tài sản chung thì đương nhiên quyền sở hữu được xác lập theo qui định của pháp luật theo các điều 236, 237, 238 đối với vật mới là sở hữu chung của vợ chồng.
Trong trường hợp tất cả tài sản được đem trộn lẫn, sáp nhập, chế biến là tài sản riêng thì tài sản mới tạo ra cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Bởi đó là tài sản mới là tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân.
Trong trường hợp tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến với tài sản của người khác để tạo thành tài sản mới thì phần quyền sở hữu với tài sản mới thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo qui định của các điều 236, 237, 238.
­Tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo các điều từ 239 đến 244 và điều 247, 246 Bộ luật Dân sự
Trường hợp này bao gồm các tài sản có được do nhặt được vật do người khác đánh rơi, bỏ quên, nhặt được vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu, đào được vật bị chôn giấu, tìm thấy vật bị chìm đắm, bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc, các trường hợp được xác lập quyền sở hữu với vật nuôi dưới nước, tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, tài sản có được do phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền.
Có lẽ theo tinh thần của điều luật và mục đích của việc qui định tài sản chung thì chỉ cần tài sản được xác lập quyền sở hữu vào thời kì hôn nhân thì đã thuộc tài sản chung, các trường hợp đào được, nhặt được… có thể coi như là một trường hợp của thu nhập bất thường của vợ chồng. Đối với các trường hợp này, chỉ cần quyền sở hữu thuộc về một trong hai người trong thời kì hôn nhân thì đó đương nhiên là tài sản chung.
Ví dụ 1: Một người bắt được một con bò bị lạc, sau khi đã báo cho ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để thông báo rộng rãi cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Ba tháng sau người đó kết hôn, ba tháng sau nữa là hết thời hạn sáu tháng không có ai đến nhận bò, con bò là tài sản chung của vợ chồng.
[3]
Ví dụ 2: Một người mua một bức tượng bằng vàng chiếm hữu công khai, liên tục, nhưng không biết đó là đồ ăn trộm, 9 năm sau người đó kết hôn, một năm sau khi kết hôn, bức tượng bằng vàng sẽ thuộc sở hữu chung của vợ chồng chứ không phải là tài sản riêng của một người như trong trường hợp nó không phải là đồ ăn trộm
[4].
­Tài sản có được theo thỏa thuận dưới dạng các hợp đồng, mua bán, vay mượn… đối với các chủ sở hữu khác
Với các trường hợp này, dù tiền dùng để mua, tài sản dùng để trao đổi, tài sản dùng để thế chấp cầm cố... là tài sản riêng hay chung thì những tài sản mua được, đổi được, vay được....có được thông qua sự thỏa thuận này cũng thuộc khối tài sản chung. Theo qui định pháp luật thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận, dễ nhận thấy một điều như sau: một căn nhà thuộc sở hữu riêng của anh chồng, trong trường hợp nó không phải là có giá trị lớn so với tổng số tài sản của hai vợ chồng, anh chồng có thể tự do định đoạt, có thể cho, tặng bất cứ ai tùy ý, vì đó là tài sản riêng của anh ta, nhưng khi bán đi thì lại không thể tự do cho ai đó chính số tiền bán nhà vì số tiền đó lúc này đã là tài sản chung của vợ chồng. Thậm chí do luật chỉ qui định là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân nên “trong trường hợp vợ hoặc chồng giao kết hợp đồng mua tài sản và đã trả tiền trước khi kết hôn, nhưng quyền sở hữu đối với tài sản chỉ được chuyển cho người mua sau khi kết hôn thì tài sản mua được cũng là tài sản chung”
[5]. Ví dụ một người mua một căn nhà trước khi cưới, đã trả tiền đầy đủ, chỉ chưa làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, sau khi kết hôn căn nhà mới chính thức thuộc quyền sở hữu của người đó, khi đó căn nhà là tài sản chung của vợ chồng.
* Như vậy ta nhận thấy bất cứ tài sản nào hợp pháp tạo ra trong thời kì hôn nhân cũng thuộc khối tài sản chung, bất kể nguồn gốc, cách thức để tạo ra nó.
Các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung
­Thừa kế chung
Theo căn cứ xác lập quyền sở hữu do được thừa kế và các qui định về thừa kế thì nếu người có di sản thừa kế chỉ rõ trong di chúc là để lại tài sản thừa kế cho cả hai vợ chồng thừa kế chung thì đó mới được coi là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nếu là thừa kế theo di chúc mà người thừa kế theo di chúc chỉ là một người hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có một người được hưởng thừa kế thì đương nhiên tài sản thừa kế là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Nếu di chúc chỉ rõ là cho cả hai vợ chồng được thừa kế tài sản nhưng lại chỉ rõ phần quyền của mỗi người thì tài sản đó thuộc sở hữu chung theo phần của hai người theo qui định của Bộ luật Dân sự (không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng). Nếu hai người được thừa kế theo pháp luật (trường hợp cha mẹ được thừa kế tài sản của con, hoặc trường hợp con đẻ kết hôn với con nuôi, con nuôi kết hôn với con nuôi được thừa kế tài sản của cha mẹ...) thì tùy từng trường hợp có thể coi đây tài sản riêng của mỗi người, hoặc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần dân sự của hai người, chứ không thể coi là thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
­Tặng cho chung
Cũng như trường hợp thừa kế, nếu như người có tài sản tặng cho thể hiện rõ là tặng cho chung vợ chồng mà không hề phân biệt phần quyền của mỗi người đối với tài sản tặng cho thì tài sản đó mới được coi là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
­Các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Do tôn trọng ý chí của vợ chồng, xuất phát từ thực tế cuộc sống là cần phải có tài sản chung để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, xuất phát từ sự gắn bó tình cảm vợ chồng, từ quan niệm không phân biệt “của anh của tôi” vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung và Luật Hôn nhân và Gia đình cũng qui định nó là tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung do thỏa thuận này có thể là tài sản riêng có được trước khi kết hôn, cũng có thể là tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, cũng có thể là tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Với những tài sản là là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn hoặc những tài sản là tài sản riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản, có chữ kí của cả vợ và chồng, một số trường hợp pháp luật qui định thì văn bản đó phải được công chứng chứng thực. Việc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản thì sẽ bị vô hiệu.
[6]
Một số trường hợp đặc biệt
­Quyền sử dụng đất có được trong thời kì hôn nhân
Theo khoản 1 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002, “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận”. Thực ra theo luật thì qui định về quyền sử dụng đất không có gì đặc biệt hơn so với qui định về các tài sản khác. Cũng có thể nói là việc qui định riêng về quyền sử dụng đất này không cần thiết nếu như quyền sử dụng đất tự bản thân nó không có những điểm đặc thù và tầm quan trọng nhất định. Quyền sử dụng đất là một loại quyền dân sự đặc thù, là loại quyền phụ thuộc, chịu sự chi phối bởi quyền độc lập là quyền sở hữu toàn dân của đất đai, vợ chồng chỉ có quyền được quyền tài sản này khi được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất.
[7] Việc qui định riêng về quyền sử dụng đất có lẽ chỉ để làm rõ về chế độ pháp lí của loại tài sản này trong quan hệ vợ chồng.
­Tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Các trường hợp tài sản có được là tài sản do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các trường hợp tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của vợ hoặc chồng hoặc cả hai bị xâm phạm có phải là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng không?
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản riêng của vợ chồng bao gồm những tài sản tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân
[8]. Như vậy theo qui định này thì tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là tài sản riêng. Chính vì thế mà chỉ còn cách xác định nó là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên về mặt thực tế nếu tài sản bị xâm phạm thì khoản tiền bồi thường có thể được coi là tài sản chung (điều này cũng hợp lí bởi ngay cả khi bán tài sản để mua tài sản mới thì tài sản mới cũng thuộc tài sản chung); nếu khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do bị thiệt hại về sức khỏe thì đó rõ ràng là tài sản chung giống như thu nhập hợp pháp vậy; nếu như trong trường hợp khoản tiền bồi thường là để lo cho chi phí thuốc thang… thì đó cũng có thể coi là tài sản chung bởi thực tế thì khối tài sản chung phải ứng trước để lo chi trả cho thuốc thang và bởi vì cũng có thể coi đây là nhu cầu thiết yếu của gia đình; tuy nhiên trường hợp khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm thì sao? Theo đúng qui định của luật thì nó là tài sản chung, nhưng lí giải nó như thế nào? Có lẽ chỉ còn cách lí giải duy nhất là khi vợ chồng gắn bó với nhau thì coi nhau như một, mọi sự tổn hại về tinh thần của người này cũng là tổn hại về tinh thần, danh dự của người kia, nên tài sản bồi thường là tài sản chung.
­Tài sản trí tuệ
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tất cả các tài sản, thu nhập hợp pháp được tạo ra trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên với tài sản trí tuệ thì lại khác mặc dù nó cũng là một loại tài sản dưới dạng quyền tài sản. Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình, người ta chỉ có thể thể hiện quyền sở hữu với nó thông qua các quyền tài sản. Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu đối với giống cây trồng
[9] trong đó có các quyền tài sản. Các chủ sở hữu đối với ba loại quyền trên đã được chỉ rõ trong Luật Sở hữu trí tuệ. Cụ thể: chủ sở hữu quyền tác giả chỉ bao gồm tác giả (người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm), đồng tác giả, tổ chức cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc kí kết hợp đồng với tác giả, người thừa kế; người được tác giả trao quyền theo hợp đồng, Nhà nước[10]; chủ sở hữu quyền liên quan chỉ có thể là những cá nhân, tổ chức đã được qui định cụ thể trong điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được qui định rõ trong điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ... Như vậy, theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành là Luật Sở hữu trí tuệ thì vợ hoặc chồng của chủ sở hữu đối với các quyền sở hữu trí tuệ không mặc nhiên là chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ, chính vì thế mà họ hoàn toàn không thể tham gia cùng với vợ (chồng) mình định đoạt, sử dụng tài sản trí tuệ đó, người sử dụng tài sản trí tuệ cũng không phải xin phép cả hai vợ chồng khi sử dụng tài sản trí tuệ theo qui định của luật. Chỉ có nhuận bút, thù lao, và các quyền lợi vật chất khác là thuộc sở hữu chung của vợ chồng vì đây là thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
2.1.2. Nguyên tắc của việc qui định tài sản chung
Theo nguyên tắc của luật dân sự thì quyền sở hữu chung được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc qui định của pháp luật hoặc theo tập quán.
Theo những phân tích ở phần trên (2.1.1) ta thấy tài sản chung của vợ chồng được xác định theo các nguyên tắc sau:
Các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng hoàn toàn tuân theo qui định của pháp luật
[11]. Tuy nhiên tài sản chung của vợ chồng cũng được xác định theo hai phương thức đối với những tài sản có nguồn gốc khác nhau. Theo phương thức bắt buộc đối với những tài sản là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác; theo phương thức tôn trọng ý chí của người có tài sản: đối với những tài sản mà chủ sở hữu đã chỉ rõ là cho vợ chồng thừa kế chung hoặc đã chỉ rõ là tặng cho chung hai vợ chồng thì đó là tài sản chung của vợ chồng, tôn trọng ý chỉ của vợ, chồng nên những tài sản nào vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung nó cũng thuộc khối tài sản chung.
Theo qui định của pháp luật thì có vẻ như những tài sản nào có được trong thời kì hôn nhân mà phải đền bù thì đều coi là tài sản chung. Có lẽ là do tính cộng đồng của hôn nhân nên mọi thứ của hai vợ chồng lúc đó đều là của nhau. Chính vì vậy mọi thứ vợ chồng bỏ ra trong thời kì hôn nhân đều được coi là của chung, và thứ có được nhờ nó cũng phải được coi là của chung. Vậy nên lương, tiền thưởng, lợi nhuận do sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung.
Những tài sản nào mà không đủ chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì là tài sản chung. Nguyên tắc này được ghi nhận trong khoản 3 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000. Theo các qui định của luật thì ta thấy khối tài sản chung bao giờ cũng có xu hướng thu hút các khối tài sản khác. Chính vì thế mà tất cả những tài sản nào không đủ chứng cứ là tài sản riêng thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Tất cả những điều trên là “do tính cộng đồng của hôn nhân và mục đích của quan hệ vợ chồng được xác lập, khi dự liệu chế độ tài sản giữa vợ chồng, Luật Hôn nhân và Gia đình đã thực hiện cách thức điều chỉnh đặc biệt để qui định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; những đặc điểm riêng biệt của sở hữu chung hợp nhất giữa vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra một cách trực tiếp, chỉ cần vợ, chồng tạo ra được trong thời kì hôn nhân; không xác định được tỉ lệ (kỉ phần) từ trước của vợ, chồng đối với tài sản chung; đặc biệt, vợ, chồng bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu, không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên vợ, chồng trong quá trình tạo lập tài sản chung...”
[12]
2.2. NGƯỜI YÊU CẦU CHIA
Theo qui định của Bộ luật Dân sự thì tài sản chung được chia theo yêu cầu của chủ sở hữu chung hoặc theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu một trong các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ với mình mà người đó không có tài sản riêng
[13]. Việc yêu cầu được chia tài sản chung của chủ sở chung không cần có lí do chính đáng.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một trường hợp của chia tài sản thuộc sở hữu chung. Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản chung chỉ được chia khi có lí do chính đáng và theo thỏa thuận của vợ chồng (khi vợ chồng không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia).
Theo đó người yêu cầu chia tài sản chung là vợ hoặc chồng hoặc cả hai khi có lí do chính đáng.
Trường hợp người thứ ba yêu cầu chia không được qui định trong Luật Hôn nhân và Gia đình, tuy nhiên theo qui định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự trong trường hợp Luật Hôn nhân và Gia đình không có qui định
[14] thì có thêm một người có quyền yêu cầu là người mà vợ hoặc chồng có nghĩa vụ riêng với họ. Hơn nữa một trong các lí do được coi là chính đáng để chia tài sản chung là chia để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nên có thể hiểu quyền yêu cầu của người thứ ba vẫn tồn tại trong khi người thứ ba chỉ thực hiện quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ với một người, còn vợ chồng họ tự nguyện chia tài sản chung để thanh toán. Tuy nhiên theo người viết, thường thì tài sản chung này được chia do vợ chồng tự nguyện chỉ nhằm để trốn tránh hay trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ với người kia, còn nếu bình thường khi vợ chồng không hề có mâu thuẫn gì thì chắc họ sẽ tự nguyện dùng khối tài sản chung để thanh toán chứ không chia tài sản chung. Theo người viết thì cơ chế để thực hiện quyền yêu cầu của người thứ ba như sau: người thứ ba có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, thậm chí được kê biên tài sản riêng của người đó; nếu tài sản riêng không đủ thì người này có thể yêu cầu vợ chồng bằng cách nào đó để có tài sản thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu không được thì người này có quyền yêu cầu vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung để người kia có tài sản thanh toán cho mình, thậm chí được tham gia vào việc chia tài sản chung đó; nếu cả ba người không thể thỏa thuận được thì người thứ ba này có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng họ để một người có tài sản thực hiện nghĩa vụ với mình[15].
2.3. ĐIỀU KIỆN CHIA
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì điều kiện để có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là phải có lí do chính đáng, hiện tại luật đã dự liệu hai trường hợp cụ thể được coi là có lí do chính đáng đó là trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng và trường hợp vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, ngoài ra luật vẫn để dự trù các trường hợp có lí do chính đáng khác.
2.3.1. Đầu tư kinh doanh riêng
Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó xác định, theo người viết thì hoạt động đầu tư kinh doanh riêng là hoạt động nhằm sinh lợi, do một người (vợ hoặc chồng) bỏ vốn ra để thực hiện một trong các công đoạn của quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường
[16].
Việc đầu tư kinh doanh được coi là một lí do chính đáng bởi để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thì chắc chắn cần phải có một khối tài sản thuộc sở hữu của người đầu tư để giao dịch. Việc tài sản đem đầu tư là tài sản thuộc sở hữu chung sẽ gây nhiều phức tạp cho việc thực hiện giao dịch, bởi việc định đoạt tài sản đó cần có sự thỏa thuận của các đồng sở hữu chủ, nếu như người kia không quan tâm đến việc kinh doanh hoặc thậm chí phản đối việc kinh doanh đó thì việc thỏa thuận sẽ rất mất thời gian, thậm chí rắc rối và khó thực hiện trong khi hoạt động kinh doanh thì cần phải nhanh chóng để “chớp thời cơ”. Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh nhằm phát triển kinh tế gia đình và đất nước, Luật Hôn nhân và Gia đình qui định rằng đây là một lí do chính đáng để vợ chồng có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Hơn nữa, nhiều hoạt động kinh doanh cũng được coi là mạo hiểm nên cần tách riêng một khoản tài sản để nếu việc kinh doanh bị thua lỗ thì cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến sự tồn tại của gia đình.
Nói chung là việc chia tài sản này nhằm để một người có tài sản riêng để thực hiện các giao dịch bảo đảm vay vốn kinh doanh, để giúp thực hiện các giao dịch đỡ phức tạp hơn, bảo đảm cuộc sống của gia đình không bị ảnh hưởng nặng nề khi việc kinh doanh thua lỗ.
2.3.2. Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người (vợ hoặc chồng) phải thực hiện còn người kia (chồng hoặc vợ) không phải liên đới thực hiện. Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này chỉ nhằm để thực hiện đúng nghĩa vụ phải thực hiện, chứ có mục đích nhằm để phát sinh lợi (vì nếu nhằm để phát sinh lợi thì sẽ thuộc trường hợp chia để đầu tư kinh doanh riêng). Nghĩa vụ dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực hiện nghĩa vụ phát sinh do giao dịch do một bên thực hiện trước thời kì hôn nhân hoặc không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Theo người viết nghĩa vụ dân sự riêng thường phải phát sinh trước khi chia tài sản chung
[17] có như vậy việc chia tài sản chung mới là cần thiết để cho một trong hai người có thể thực hiện được nghĩa vụ này. Tuy nhiên cũng có trường hợp nghĩa vụ riêng là nghĩa vụ trong tương lai, tuy nhiên nó phải có tầm quan trọng nhất định thì mới được coi là chính đáng.
Luật chỉ dự liệu trường hợp chia tài sản để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng chứ không hề dự liệu việc chia tài sản để thực hiện trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm hành chính với hình phạt tiền.
2.3.3. Lí do chính đáng khác
Trường hợp này là do luật chưa dự liệu hết được các trường hợp. Theo Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thì trường hợp vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn không muốn li hôn, được coi là một trường hợp có lí do chính đáng (trường hợp này có thể được coi là “li thân thực tế”). Theo người viết thì trường hợp một người thường xuyên có hành vi phá tán tài sản mà không thuộc trường hợp bị tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự (vì không nghiện hút hay nghiện các chất kích thích khác) cũng được coi là lí do chính đáng để vợ chồng chia tài sản chung. Thực tế là không hề có một chuẩn mực nào để đánh giá sự chính đáng trong lí do của việc chia tài sản chung, nếu như việc chia tài sản chung do tòa án quyết định thì một lí do có được coi là lí do chính đáng khác không sẽ do tòa án cân nhắc, còn nếu việc chia là do vợ chồng thỏa thuận thì không thể kiểm soát được lí do chia tài sản có là chính đáng hay không, mà chỉ có qui định về sự vô hiệu của bản thỏa thuận chia khi nó được lập ra nhằm để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản.
2.4. CÁCH THỨC CHIA
Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc chia tài sản chung được tiến hành theo cách thức ưu tiên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia
[18]. Trường hợp vợ chồng thỏa thuận được (hoặc là cả ba người thỏa thuận được khi người thứ ba yêu cầu vợ chồng chia) thì việc chia là hoàn toàn tự do có thể chia hết tài sản, chia một phần tài sản, chia cho hai bên có tài sản như nhau, chia cho một bên tất cả tài sản hiện có...miễn là việc chia đó không nhằm để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản. Trường hợp không thỏa thuận được thì việc chia do tòa án, tuy các văn bản hiện hành không qui định về cách thức chia trong trường hợp này nhưng kế thừa các qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thì có lẽ cơ chế chia giống như trong một vụ li hôn[19]. Việc không qui định về cách thức chia trong trường hợp này có thể là sơ suất của nhà làm luật.
2.5. HÌNH THỨC CHIA VÀ HIỆU LỰC
2.5.1. Thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì thỏa thuận của vợ chồng phải được lập thành văn bản. Yêu cầu bắt buộc của văn bản là phải ghi rõ các nội dung: lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia (nếu có); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ kí của cả vợ và chồng. Văn bản có thể có người làm chứng, hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo qui định của pháp luật
[20]. Vậy nên việc chia tài sản của vợ chồng hiện tại không hề bắt buộc phải có người làm chứng, hay phải công chứng chứng thực, tuy nhiên với một số trường hợp để đảm bảo cơ sở pháp lí chắc chắn cho việc thực hiện các thủ tục pháp lí tiếp theo có liên quan đến tài sản chia thì bản thỏa thuận chia tài sản chung phải có công chứng, chứng thực ví dụ chia tài sản chung là quyền sử dụng đất,­ chia tài sản chung để tham gia giao dịch bảo đảm.
Thời điểm có hiệu lực của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được ghi rõ trong văn bản đó. Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP qui định về hiệu lực của văn bản thỏa thuận như sau:
“1. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.
2. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.
3. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.”
Dễ nhận thấy rằng thời điểm có hiệu lực được qui định là phải ghi trong văn bản nhưng nếu thiếu nó thì cũng không làm mất tính hợp pháp của văn bản (theo qui định của khoản 1) và sự thỏa thuận của vợ chồng về thời điểm có hiệu lực trong trường hợp văn bản phải được công chứng chứng thực theo qui định của pháp luật sẽ không có giá trị (theo khoản 3).
2.5.2. Quyết định của tòa án
Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì vợ hoặc chồng hoặc cả hai người yêu cầu tòa án chia tài sản chung, hoặc trong trường hợp người thứ ba có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng với vợ hoặc chồng mà không được đáp ứng thì cũng có quyền yêu cầu tòa án chia. Trường hợp này sẽ phải tiến hành các thủ tục tố tụng theo qui định của luật tố tụng dân sự.
Hiệu lực của việc chia tài sản chung trong trường hợp này là ngày quyết định cho chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật.
2.6. HẬU QUẢ PHÁP LÍ VỀ TÀI SẢN CỦA VIỆC CHIA
Hậu quả pháp lí về tài sản của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chính là sự thay đổi của các khối tài sản. Theo qui định của điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là “hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”.
Theo các qui định của luật thì quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng được mở rộng phạm vi đó là hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sẽ thuộc sở hữu riêng của vợ chồng, phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Như vậy tức là khối tài sản riêng chỉ được mở rộng với các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối tài sản riêng được chia còn khối tài sản chung vẫn được phát sinh theo luật. Tức là mọi tài sản tạo ra, mọi thu nhập hợp pháp, mọi tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung, mọi tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung đều là tài sản chung. Theo như câu chữ của luật thì hoa lợi lợi tức từ tài sản riêng của vợ chồng không do chia và thậm chí cả thu nhập từ việc bán tài sản riêng do được chia cũng thuộc khối tài sản chung. Việc này sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư kinh doanh của người được chia tài sản để đầu tư kinh doanh và như thế thì không phù hợp với mục đích của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
Để tránh việc qui định như vậy Nghị định 70 hướng dẫn chi tiết Luật Hôn nhân và Gia đình đã qui định thêm về hậu quả chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân như sau:
“Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác
[21]”.
Tuy nhiên qui định của Nghị định này thực tế đã làm thay đổi chế độ tài sản vợ chồng (ngay cả tên điều 9 của Nghị định cũng là “khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng”), bởi theo như qui định này thì chỉ có những tài sản được tặng cho, thừa kế chung, tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung và những hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản chung mới thuộc khối tài sản chung, còn lại những tài sản là thu nhập hợp pháp của vợ chồng như lương, tài sản mà một người tạo ra trong thời kì hôn nhân thuộc khối tài sản riêng của vợ chồng…và nếu như vợ chồng quyết định chia tất cả tài sản chung thì khối tài sản chung sẽ gần như không còn có thể tồn tại nếu không được thừa kế chung, tặng cho chung hay vợ chồng không khôi phục lại chế độ tài sản chung. Có ý kiến cho rằng qui định này thực chất là đã chấp nhận chế độ biệt sản của vợ chồng
[22], có ý kiến cho rằng qui định này là trái luật và phải bị vô hiệu hóa[23].
2.7. VIỆC KHÔI PHỤC CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
Việc khôi phục chế độ tài sản chung chỉ có thể đặt ra khi vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Việc khôi phục chế độ tài sản chung phải theo thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Trong văn bản này bắt buộc phải ghi rõ lí do khôi phục tài sản chung, phần tài sản riêng của mỗi bên, phần tài sản chung (nếu có), thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung. Văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng chỉ bắt buộc phải có chữ kí của cả hai vợ chồng, không bắt buộc phải có người làm chứng hay công chứng chứng thực, kể cả trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng chứng thực nhưng không phải là trường hợp bắt buộc phải công chứng chứng thực theo qui định của pháp luật. Chỉ có qui định bắt buộc phải công chứng chứng thực đối với các văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo qui định của pháp luật
[24].
Việc khôi phục chế độ tài sản chung này căn cứ vào qui định tại điều 9 Nghị định 70 thì là khôi phục toàn bộ chế độ tài sản chung, tuy nhiên theo người viết, có thể khôi phục một phần chế độ tài sản chung, nó thực ra chỉ là việc khôi phục toàn bộ chế độ tài sản chung rồi lại chia tài sản chung nhưng có thỏa thuận là hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi chia và thu nhập hợp pháp của vợ chồng sau khi chia là tài sản chung của vợ chồng.

[1] Điều 233. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp
Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó.
[2] Cách chia giữa tài sản tạo ra và thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân chỉ là tương đối, và đây chỉ là cách chia của người viết, trong Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 thì các tài sản này được coi là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng.
[3] Xem điều 242 Bộ Luật dân sự năm 2005: Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc.
[4] Điều 247 Bộ Luật dân sự năm 2005: Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu
[5] Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình, tập 2, tr.15
[6] Xem điều 9 và điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ - CP ngày 3/10/2001.
[7] Nguyễn Hồng Hải, Xác định tài sản của vợ chồng một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2002, tr. 40.
[8] Xem khoản 1 điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[9] Xem khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
[10] Xem điều 13 và các điều từ 37 đến 42 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
[11] Xem thêm về “Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chòng trong pháp luật” - TS. Nguyễn Văn Cừ , Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, phần IV chương I, NXB Tư pháp,2008.
[12] TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản vợ chồng theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, NXB Tư pháp 2008, tr. 232
[13] Xem điều 224 Bộ luật Dân sự năm 2005
[14] Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[15] Có ý kiến cho rằng trong trường hợp này quyền khởi kiện của người thứ ba không được thừa nhận. ThS. Nguyễn Hồng Hải, Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, Tạp chí Luật học số 5 năm 2003, tr. 26-29
[16] Khái niệm kinh doanh này được lấy tương tự như khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2005.
[17] Có ý kiến cho rằng nghĩa vụ dân sự riêng có thể là nghĩa vụ trong tương lai, tuy nhiên nếu như nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì có lẽ khó có thể coi là có lí do chính đáng.
[18] Qui định tại khoản 1 điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[19] Xem điều 18 và điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
[20] Xem khoản 1 và khoản 2 điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001.
[21] Khoản 2 điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001.
[22] TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản vợ chồng theo pháp Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, NXB Tư pháp 2008, tr. 253.
[23] TS. Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề lí luận về các phương pháp phân tích luật viết, NXB Tư pháp 2006, tr. 123.
[24] Xem khoản 3 điều 9 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001

Thứ bảy, ngày 20 tháng chín năm 2008

Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân_chương 1

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Thời kì hôn nhân
Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng. Theo pháp luật Việt Nam thì thời kì hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân[1]
[1]. Tuy nhiên từ các qui định của Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 có thể suy ra hai trường hợp đặc biệt mà thời kì hôn nhân được tính theo cách khác, đó là trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 mà không đăng kí kết hôn, trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trong khoảng thời gian từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà đăng kí kết hôn trong khoảng từ ngày 1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 (thời kì hôn nhân được tính từ ngày quan hệ vợ chồng thực tế được xác lập đến ngày chấm dứt hôn nhân)[2].
Tài sản chung
Tài sản chung là tài sản thuộc sở hữu của nhiều chủ sở hữu. Tuy nhiên khái niệm tài sản chung được đề cập ở đây chỉ là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, tức là tài sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng mà với tài sản đó phần quyền sở hữu của mỗi người không được xác định.
Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không được định nghĩa trong các văn bản pháp luật, có lẽ nhà làm luật cho rằng cụm từ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đủ để phản ánh khái niệm đó. Theo người viết có thể tạm định nghĩa: chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay sở hữu chung theo phần của vợ chồng.
1.1.2. Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Chế định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể tồn tại khi pháp luật ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vì nếu không ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thì vợ chồng sẽ không được bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, mà mục đích của vợ chồng khi chia tài sản chung là để cho vợ hoặc chồng hoặc cả hai có thể tự do định đoạt với những tài sản được chia.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện được trong thời kì hôn nhân, việc chia tài sản thuộc sở hữu chung của hai người chưa kết hôn hay chia tài sản của hai người đã li hôn đều không thể coi là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện khi tồn tại khối tài sản chung vì nếu khối tài sản chung không thể tồn tại thì không có đối tượng để chia. Tuy nhiên một số trường hợp cũng có thể chia với khối tài sản chung chưa thuộc sở hữu của vợ chồng trong hiện tại nhưng sẽ phát sinh trong tương lai
[3].
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt hoàn toàn sở hữu chung của vợ chồng vì việc chia tài sản chung này không chỉ đơn thuần như việc chia tài sản chung thuộc các hình thức sở hữu chung như qui định của Bộ luật Dân sự
[4], khối tài sản chung vẫn có thể còn tồn tại hoặc vẫn có thể xuất hiện (trong trường hợp không chia hết hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung, hay vợ chồng khôi phục chế độ tài sản chung...)
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân hoàn toàn không làm ảnh hưởng tới quan hệ nhân thân của vợ chồng. Sau khi chia tài sản chung, quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại trước pháp luật, do đó vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng như chung thủy yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng giữ gìn danh dự, nhân phẩm uy tín cho nhau, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhau … điều này khác hẳn với chế định li thân ở một số nước.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp để loại bỏ các mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản. Tài sản chung của vợ chồng theo qui định pháp luật phải được quản lí theo sự nhất trí của hai người, định đoạt theo sự thỏa thuận của hai người mà hai người thì không phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản lí của nhau, bằng lòng về cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn sẽ có mâu thuẫn phát sinh, mâu thuẫn đó khiến cho việc dịch chuyển tài sản bị chậm lại, có khi bị ngừng lại gây bất lợi cho kinh tế gia đình. Còn việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân thì không cần có sự nhất trí, sự bằng lòng của nhau, chính vì vậy mà việc chia tài sản chung sẽ là một giải pháp để loại bỏ các mâu thuẫn trong quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản.
Việc chia tài sản chung là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có tuổi vì lí do nào đó mà có mẫu thuẫn sâu sắc về tình cảm, nhưng lại không dám ra tòa li hôn do sợ điều tiếng của dư luận, sợ mất hòa khí gia đình, sợ con cái lo buồn, sợ hàng xóm chê cười. Qui định này tạo điều kiện cho họ được có tài sản riêng để sống độc lập, tránh đối mặt với các mâu thuẫn.
Qui định về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đánh dấu sự chuyển mình theo thời đại của các qui định pháp luật về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng. Việt Nam trong một thời gian dài tồn tại dựa vào nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên tư duy của con người khó lòng thoát khỏi nguyên tắc của xã hội trồng lúa nước - đó là ổn định để tồn tại, đoàn kết để tồn tại, chính vì thế mà người ta thường lạ lẫm với việc rạch ròi về tài sản, nhất lại là tài sản của vợ chồng, nếu như cặp vợ chồng nào có sự độc lập về tài chính với nhau hay sự phân định “của anh, của tôi” thì thường bị người ta chê cười. Sang thời đại của công nghệ thông tin, của internet, của thẻ tín dụng, của toàn cầu hóa sự độc lập của mỗi cá nhân không thể bị bó buộc trong lối tư duy cũ đó nữa. Và con người thực sự cần sự độc lập hơn về tài chính để có thể tồn tại trong xã hội hiện đại. Việc chia tài sản trong chung trong thời kì hôn nhân như một giải pháp để dung hòa giữa truyền thống xưa và tư duy của ngày nay.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI
Như đã nói ở trên người Việt Nam tự ngàn xưa đã luôn coi trọng sự ổn định, với tư duy “an cư thì mới lạc nghiệp”, gia đình với người Việt Nam luôn được đặt lên hàng đầu, và sự phân chia tài sản trong thời kì hôn nhân trong cố luật là không thể có.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong pháp luật Việt Nam trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực là không hề có. Tuy một số luật dưới thời Ngụy quyền, thời Pháp thuộc do ảnh hưởng của pháp luật phương Tây cũng qui định cho vợ chồng được thỏa thuận về tài sản trong hôn ước (lập trước khi kết hôn), nhưng hôn ước này thì lại bất di bất dịch nên việc chia tài sản chung không thể được thực hiện trong thời kì hôn nhân.
Qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật Việt Nam tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
1.2.1. Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tài sản pháp định, tài sản chung của vợ chồng “gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”
[5]. Luật không qui định rằng những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì cũng thuộc khối tài sản chung nhưng lại qui định "đối với tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”[6] và việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng được thực hiện theo qui định của Nghị định số 45-HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước[7].
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kì hôn nhân khi có lí do chính đáng và có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên. Chỉ có một cách thức chia duy nhất là quyết định của tòa án. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 không dự liệu các lí do chính đáng nên việc đánh giá lí do chính đáng hoàn toàn phụ thuộc vào tòa án (Nghị quyết hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình có nêu một trường hợp được coi là lí do chính đáng đó là vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn li hôn mà chỉ muốn ở riêng
[8]). Nguyên tắc chia giống như chia tài sản trong một vụ li hôn[9]. Luật cũng không hề dự liệu về hậu quả pháp lí về tài sản sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và các văn bản dưới luật cũng không hướng dẫn vấn đề này. Vấn đề nhập lại tài sản riêng có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cũng không được qui định trong luật, mà luật cũng chỉ qui định về việc nhập hay không nhập các tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân[10].
Xuất phát từ tình hình năm 1986 đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, nên mọi qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chưa được cụ thể. Hơn nữa với tình hình thời đó thì không có một vụ án nào về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nào được đưa ra xét xử sơ thẩm
[11], trường hợp chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà được tòa án giải quyết (nếu có) cũng chỉ được coi là trường hợp đặc biệt ngoại lệ.
1.2.2. Chia tài sản chung trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bổ sung thêm một căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng đó là thỏa thuận của vợ chồng.
Theo luật tài sản chung của vợ chồng cũng chỉ được chia khi có lí do chính đáng, luật dự liệu cụ thể hai trường hợp được coi là có lí do chính đáng đó là vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng. Luật cũng cho phép vợ chồng được thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản bên cạnh việc chia tài sản chung bằng quyết định của tòa án.
Luật đã dự liệu về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, và theo qui định về tài sản chung thì vợ chồng cũng có thể nhập lại tài sản đã được chia vào khối tài sản chung theo căn cứ xác lập tài sản chung là thỏa thuận của vợ chồng.
Vấn đề qui định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân sẽ được làm rõ hơn ở chương 2.
1.3. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH TƯƠNG TỰ TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Do sự khác nhau về nền văn hóa và các điều kiện kinh tế, chính trị những hình thức có thể coi là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ở một số nước có sự khác nhau nhất định với Việt Nam. Sau đây xin được điểm qua một số hình thức tương tự chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
1.3.1. Chế định chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan
[12]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo qui định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó không được công nhận.
Theo qui định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng sẽ phát sinh quan hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:
Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân.
Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân thông qua một di chúc hoặc tặng cho được làm bằng văn bản nếu trong các văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung.
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng
Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh được nó là của riêng một bên vợ, chồng thì tài sản đó dược coi là tài sản chung
[13].
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chia trong thời kì hôn nhân trong các trường hợp cụ thể sau:
Một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung
[14]
Một bên vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lí tài sản chung như: gây mất mát tài sản chung mà không có lí do chính đáng; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu những món nợ vượt quá 1/2 giá trị tài sản chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc quản lí tài sản chung mà không có lí do chính đáng
[15].
Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản.
[16]
Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ và do đó bố hoặc của người đó hoặc một người ngoài được chỉ định làm người giám hộ thì người giám hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lí tài sản chung với người kia. Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây nguy hại cho họ
[17]
Sau khi chia tài sản chung thì phần tài sản chia cho mỗi bên cợ chồng trở thành tài sản riêng của họ. Bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc chồng có được sau khi chia sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi là tài sản chung. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trở thành tài sản riêng chia đều cho mỗi bên. Hoa lợi thu được từ tài sản riêng của người nào thuộc sở hữu của người đó
[18].
Chế độ tài sản chung chỉ được tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của vợ, chồng và khi các lí do chia tài sản chung đã hết.
1.3.2. Một loại hậu hôn ước (postnuptial agreement) ở Hoa Kì
[19]
ở Hoa Kì chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản ước định, luật pháp chỉ can thiệp vào việc qui định tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước hay còn gọi là khế ước tiền hôn nhân (prenuptial agreement) và việc qui định về tài sản của vợ chồng ở mỗi bang lại có sự khác nhau. Tuy nhiên pháp luật Hoa Kì cũng cho phép các cặp vợ chồng được lập hậu hôn ước (postnuptial agreement) một loại khế ước được lập sau khi kết hôn nhưng trước khi li hôn để qui định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
Có ba kiểu hậu hôn ước:
Hậu hôn ước qui ước về tài sản của vợ chồng khi xảy ra cái chết của một người, như vậy thì người còn sống sẽ không phải nhận tài sản từ di chúc hay từ qui định của pháp luật về thừa kế.
Hậu hôn ước qui ước về những tranh chấp khi li hôn và tránh việc phải theo sự phân xử của tòa án bằng việc qui định rõ về việc chia tài sản, về quyền nuôi con, về việc cấp dưỡng. Hậu hôn ước loại này được bao gồm với bản án li hôn của tòa án.
Hậu hôn ước qui định về quyền lợi về tài sản trong thời kì hôn nhân bao gồm: qui định về việc giới hạn hay từ bỏ việc cấp dưỡng; đặt khối tài sản có được trong suốt thời kì hôn nhân trong tình trạng riêng biệt.
Như vậy có thể nói kiểu hậu hôn ước thứ ba cũng là một hình thức chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, hậu hôn ước này phải được lập thành văn bản có chữ kí của cả hai vợ chồng, giá trị của hậu hôn ước chỉ được công nhận khi tài sản riêng của nhau được các bên biết rõ, không có sự hăm dọa, gian dối hay cưỡng bức trong việc lập hôn ước. Sau khi lập hậu hôn ước, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ biệt sản.
1.3.3. Qui ước về tài sản trong luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ( sửa đổi năm 2001)
[20]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Trung Quốc được điều chỉnh theo phương thức qui ước của vợ chồng song song với những qui định của pháp luật:
Theo qui định của điều 17 Luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2001) thì:
“Trong thời gian còn duy trì quan hệ hôn nhân những tài sản dưới đây thuộc về sở hữu chung của hai vợ chồng
Lương, tiền thưởng
Lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh
Lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản trí thức
Tài sản có được nhờ thừa kế, hiến tặng nhưng ngoài quy định tại điều 18 chương 3 của luật này
Những tài sản khác mà cần thuộc về sở hữu chung.
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung, hai vợ chồng bình đẳng về quyền xử lí”.
Tuy nhiên Luật Hôn nhân (sửa đổi năm 2001) có qui định cho vợ chồng qui ước để những tài sản trên không còn là tài sản chung nữa. Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể qui ước những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân còn duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ phận.
Qui ước được ghi lại bằng văn bản. Nếu không có quy ước hoặc quy ước không rõ ràng, áp dụng thích hợp theo qui định của điều 17 và 18 luật này.
Qui ước về những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân đang được duy trì và những tài sản trước hôn nhân, có sức ràng buộc đối với cả hai phía”.
Theo qui định đó thì vợ chồng hoàn toàn có thể thương lượng với nhau về vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Việc qui ước này phải được lập thành văn bản, văn bản này có thể được công chứng
[21]. Nếu không có bản thỏa thuận này hoặc bản thỏa thuận này không rõ ràng thì mới áp dụng thích hợp theo điều 17 và điều 18 (qui định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng)[22].
[1] Khoản 7 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
[2] Nguyễn Văn Cừ, Thời kì hôn nhân - căncứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 12 - 2006 (số 23), tr. 7 - 13
[3] Sẽ làm rõ điều này ở các phần sau.
[4] Theo điều 226 Bộ luật Dân sự năm 2005 việc chia tài sản chung là một trong số các căn cứ làm chấm dứt sở hữu chung
[5] Xem điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
[6] Xem điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
[7] Điều 27 Nghị định số 45- HĐBT có qui định: “Công chứng viên chứng nhận tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản đó được nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng trên cơ sở đơn của người có tài sản đó”
[8] Xem Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988.
[9] Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 qui định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này” (điều 42 có qui định về nguyên tắc chia tài sản khi li hôn).
[10] Xem điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
[11] Theo thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình (thống kê theo báo cáo của các tòa sơ thẩm trong cả nước) thì trong thời gian từ năm 1987 đến hết quí 3 năm 2004 chưa hề có vụ án chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nào được thụ lí - tài liệu từ Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao.
[12] Nguyễn Hồng Hải , Vài nét về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Thái Lan, Tạp chí Luật học số 6 năm 1997, tr. 42 - 45
[13] Xem điều 1474 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
[14] Xem điều 1488 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
[15] Xem điều 1484 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan
[16] Xem điều 1491 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
[17] Xem điều 1598: 1598/17 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
[18] Xem điều 1492 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
[19] Dr. Ronald B. Standler, Prenuptial and postnuptial contract law in the USA, page 18
[20] Xem luật hôn nhân của cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã sửa đổi năm 2001 (cái này bằng tiếng Trung ben ko biết post lên blog kiểu gì)
[21] Điều 11 luật Công chứng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có qui định về cơ cấu công chứng việc phân chia tài sản
[22] Điều 18: Với một trong những tình hình dưới đây, tài sản thuộc về một bên vợ hoặc chồng:
1, tài sản của một bên trước hôn nhân
2, một bên vì thân thể có thương tích có được phí chữa trị, phí trợ cấp cuộc sống của người tàn tật.
3, những tài sản mà trong di chúc hoặc văn bản hiến tặng xác định là chỉ thuộc về một bên vợ hoặc chồng.
4, những nhu yếu phẩm chuyên dùng của một bên
5, những tài sản khác mà cần thuộc về một bên

Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân_lời mở đầu

Lời mở đầu
Hai người nam nữ khi chưa bước vào hôn nhân, họ là những người có tài sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình. Khi bước vào hôn nhân, điều đó đã khác.
Trong thời kì hôn nhân, hai người phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi. Lợi ích của họ vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích gia đình. Thời trước, khi xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch, họ chỉ nhân danh lợi ích gia đình. Tài sản chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham gia các giao dịch. Suy cho cùng, tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ, chồng cũng phải được khai thác để nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của gia đình. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng. Cùng với điều đó việc mỗi người có đủ tài sản riêng để đặt cơ sở vật chất cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch do mình thực hiện không phụ thuộc nhiều vào người còn lại là rất cần thiết. Qui định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một giải pháp cho vấn đề đó trong bối cảnh chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay là chế độ cộng đồng tạo sản.
Trong thời gian gần đây, số lượng án phải giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong cả nước đang có chiều hướng gia tăng: năm 2004 là 159 vụ, năm 2005 là 398 vụ, năm 2006 là 404 vụ, năm 2007 là 452 vụ
[*]. Qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã cụ thể hơn so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 song vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần có quan điểm thống nhất về lí luận cũng như thực tiễn xét xử. Hơn nữa còn có một vấn đề là việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân thường được coi là đi kèm với những mâu thuẫn về tình cảm của vợ chồng, vì thế mọi người nghĩ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một việc không tốt. Điều đó cho thấy cần thiết phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng cũng như có giải pháp cho việc chia tài sản chung mà vẫn có thể giữ được hạnh phúc gia đình. Chính vì lí do đó mà người viết chọn đề tài “Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân” để nghiên cứu.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn đề cập, phân tích toàn bộ các qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và chứng minh được tính hợp pháp cũng như sự hợp lí của việc tồn tại một thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân với nội dung, hình thức và phạm vi phù hợp, kiến nghị về việc cụ thể hóa thỏa thuận này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng nó.
Hiện tại, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều công trình, bài viết, tuy nhiên chỉ là đề cập tới nó như một phần của một vấn đề khác hoặc là chỉ đề cập tới một phần của nó. Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng cũng được nhiều tác giả đề cập tới nhưng là đề cập dưới góc độ gắn nó với chế độ tài sản ước định và cho rằng nó không phù hợp với qui định pháp luật hiện hành. Việc phân tích toàn bộ các qui định pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, tóm tắt về một số chế định tương tự trong pháp luật của các nước và chứng minh tính hợp pháp của một loại thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ là điểm mới của đề tài.
Nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương với 13 mục lớn. Cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân;
Chương 2: Qui định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân;
Chương 3: Vấn đề thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam.

[*] Theo thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình (thống kê theo báo cáo của các tòa sơ thẩm trong cả nước) - tài liệu từ Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao.