GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ KHẾ ƯỚC TIỀN HÔN NHÂN
1. “Hợp đồng hôn nhân” , “khế ước tiền hôn nhân” hay “hôn ước”, “hôn khế” là những thuật ngữ dùng để chỉ một loại thỏa thuận về tài chính của một cặp nam nữ trước khi kết hôn. Nội dung của hợp đồng hôn nhân rất đa dạng, có những hợp đồng hôn nhân chỉ để xác định tài sản của vợ chồng tạo lập được trong thời kì hôn nhân, có những hợp đồng hôn nhân chỉ qui định về việc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp li hôn, hay có những hợp đồng hôn nhân qui định cả về việc nếu một bên qua đời thì việc cấp dưỡng với bên kia như thế nào… Hợp đồng hôn nhân là một thỏa thuận được lập bằng văn bản của vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng (quyền sở hữu với tài sản của vợ chồng) trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn đến lúc chấm dứt hôn nhân (hai người li hôn hoặc một trong hai người chết)).
Gần đây xuất hiện thêm thuật ngữ hôn nhân hợp đồng, đây là một dạng thỏa thuận chung sống (qui định về thời điểm bắt đầu chung sống và thời điểm kết thúc việc chung sống, về quyền lợi và nghĩa vụ của hai người trong thời gian chung sống) hôn nhân hợp đồng được cho là hợp pháp ở một số ít các quốc gia hồi giáo, hôn nhân hợp đồng không phải là khế ước tiền hôn nhân.
Cũng có một số khế ước tiền hôn nhân của các ca sĩ, diễn viên nổi tiếng trên thế giới có qui định cả về vấn đề nhân thân hay qui định cả về những chế tài trong hôn nhân (yêu cầu người kia phải trả một khoản tiền nhất định nếu vi phạm những cam kết nhất định trong thời gian chung sống), những thỏa thuận như thế không thuộc phạm vi giới thiệu của bài viết này.
Trong những thập niên gần đây, nhiều quốc gia đã cho phép những cặp vợ chồng chưa lập khế ước tiền hôn nhân trước khi kết hôn có thể lập một bản thỏa thuận về tài sản vợ chồng, về cơ bản nó chỉ khác khế ước tiền hôn nhân ở thời điểm lập, nó được gọi là “khế ước sau hôn nhân ” (postnuptial agreement). Tuy nhiên những bản thỏa thuận đó không thuộc phạm vi giới thiệu của bài viết này.
2. Nhìn chung khế ước tiền hôn nhân có những đặc điểm sau:
*Chủ thể trong quan hệ do khế ước tiền hôn nhân điều chỉnh phải là vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp (trường hợp chung sống như vợ chồng hay trường hợp hôn nhân thực tế dù là hợp pháp, hai người năm nữ không thể lập khế ước tiền hôn nhân).
*Khế ước tiền hôn nhân phải do hai người nam nữ tự nguyện thỏa thuận.
*Khế ước tiền hôn nhân phải được lập trước khi kết hôn.
*Khế ước tiền hôn nhân phải được xác nhận tính hợp pháp của cơ quan tư pháp, cơ quan nhà nước, hoặc cơ quan công chứng (tùy theo qui định của pháp luật từng quốc gia).
*Dù khế ước tiền hôn nhân được lập trước thời kì hôn nhân nhưng nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân.
*Trong khế ước tiền hôn nhân phải xác định rõ khối tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng.
*Trong khế ước tiền hôn nhân có thể xác định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các giao dịch với bên thứ ba.
*Khế ước tiền hôn nhân có tính ổn định cao, việc thay thế hủy bỏ nó là phải theo những thủ tục chặt chẽ.
3. Có lẽ khế ước tiền hôn nhân đầu tiên đã được xuất hiện từ thời La Mã cổ đại dưới hình thức thỏa thuận hôn nhân - nuptias consensus facit trong hôn nhân không dưới quyền của người chồng - sine manu (hình thức hôn nhân này tồn tại trước thời hoàng đế Justinian) hoặc thỏa thuận điều kiện về của hồi môn - stipuliatio vào cuối thời kì cộng hòa (khoảng thế kỉ thứ 2 trước công nguyên).
Dưới thời La Mã không có khối tài sản nào được coi là tài sản chung bởi quyền gia trưởng của người chồng gần như tuyệt đối (đặc biệt trong hôn nhân cum manu – hôn nhân dưới quyền của người chồng), tất cả tài sản của gia đình đều bị coi là tài sản của người chồng, thậm chí vợ con cũng được coi là tài sản của chồng, người chồng có thể kiện đối với vợ theo hình thức kiện vật quyền (actio in rem). Hôn nhân sine manu được đánh giá là một hình thức giải phóng người phụ nữ khỏi quyền lực (manus) của người chồng, hôn nhân được thiết lập trên cơ sở của nuptias consensus facit . Nuptias consentus facit chỉ xuất hiện trong hôn nhân sine manu và thực chất nó chỉ là một thỏa thuận ghi nhận và phân định khối tài sản riêng của người vợ có trước thời kì hôn nhân với tài sản trước và trong thời kì hôn nhân (khối tài sản này được coi là tài sản của người chồng), theo đó người vợ hoàn toàn được tự chủ trong quan hệ tài sản, người chồng chỉ có thể thực hiện quản lí tài sản riêng của vợ trên cơ sở hợp đồng ủy quyền quản lí của người vợ .
Vào cuối thời Cộng hòa để ngăn ngừa việc cưới vợ nhằm lấy của hồi môn, sau đó li dị, luật La Mã đã qui định: trước khi kết hôn cho phép bố mẹ hoặc người chủ hộ (Pater familias) của cô dâu thỏa thuận điều kiện về của hồi môn nếu trường hợp li dị hoặc người chồng chết trước thì của hồi môn được trả lại cho vợ . Thỏa thuận đó được gọi là stipuliatio, thỏa thuận stipuliatio thường có nội dung sau:
- của hồi môn sẽ thuộc về chồng hoặc nhà chồng nếu như vợ chết
- hoặc của hồi môn sẽ được trả lại cho bố mẹ vợ nếu như vợ chết trước.
- trong trường hợp người chồng chết thì của hồi môn buộc phải trả lại cho bố đẻ hoặc pater familias của vợ .
Nuptias consentus facit hay stiputliatio thực chất cũng chưa mang tất cả những đặc điểm của khế ước tiền hôn nhân nhưng cũng mang những yếu tố sơ khai ban đầu của khế ước tiền hôn nhân.
4. Khế ước tiền hôn nhân có lẽ là sản phẩm dài của một quá trình lịch sử đấu tranh và dung hòa của các truyền thống văn hóa, tư tưởng tôn giáo (ở đây là ki tô giáo - tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất từ trước tới nay ), quyền lực nhà nước và quyền tự do của con người.
Vào thời kì khởi thủy của tôn giáo này, quan niệm về hôn nhân trong Ki tô giáo chịu ảnh hưởng của hai truyền thống: truyền thống Do Thái và truyền thống Roma . Theo truyền thống Do Thái, tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng trong hôn nhân, nó được thể hiện thông qua các nghi lễ các lời chúc tốt lành. Người Do Thái cử hành hôn nhân thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là lễ đính hôn việc cử hành lễ đính hôn bao gồm cả việc đọc kinh chúc phúc, giai đoạn hai là hôn lễ, cử hành khoảng một năm sau lễ đính hôn với những nghi lễ long trọng. Khi làm lễ kết hôn cho một đôi nam nữ ở nhà thờ, người giáo trưởng nói với họ “phải nhớ rằng người chồng là chủ gia đình, nhưng đồng thời cũng phải nhớ rằng chủ nhân trong gia đình cũng phải là người vợ. Và bao giờ cũng phải nhớ điều đó”. Giáo lí Do Thái coi vợ chồng là bình đẳng và họ phải biết nhượng bộ nhau, thông cảm với nhau: như vậy hạnh phúc sức khỏe và sự thịnh vượng sẽ mãi mãi tồn tại trong gia đình . Trong khi đó truyền thống Roma lại coi trọng sự thỏa thuận, chính quyền Roma không can thiệp vào sự cử hành các nghi lễ, họ tôn trọng các phong tục của các dân tộc sống trên đế quốc La Mã tuy nhiên các luật gia La Mã lại sớm ấn định các yếu tố pháp lí phòng khi xảy ra các trường hợp kiện tụng . Vì thế nên nếu ai muốn cử hành hôn lễ theo nghi thức nào cũng được nhưng bắt buộc phải có sự thỏa thuận, nếu như chưa có sự thỏa thuận công khai thì luật pháp coi như hai người chưa phải là vợ chồng của nhau. Thời kì đầu này có lẽ ki tô giáo chịu ảnh hưởng của truyền thống Do Thái nhiều hơn, điều này thể hiện ở các quan điểm về hôn nhân trong kinh Tân ước: người chồng không được đối xử với người vợ như là một món đồ sở hữu theo quan điểm Roma, vợ chồng phải chung thủy với nhau, việc li hôn bị cấm.
Thời Trung cổ, đế quốc Rôma sụp đổ, các cơ cấu xã hội bị đảo lộn, quyền lực chuyển dần về tay giáo hội. Lúc này các giám mục không những chỉ phải giảng giải về đạo đức trong hôn nhân, không phải chỉ lo khuyên bảo, răn dạy cho các cặp đôi mà nhiều lần phải đảm đương vai trò của pháp luật, thêm vào đó để dung hòa xung đột với dân truyền thống của dân Giecmanh, việc sự thỏa thuận trong hôn nhân đã được khẳng định rõ ràng trong giáo luật. Ngoài ra việc khẳng định sự thỏa thuận trong hôn nhân cũng nhằm tới những vấn đề xã hội thực tiễn nữa: khi nhấn mạnh tới sự thỏa thuận của đôi vợ chồng trong hôn nhân, Giáo hội muốn bài trừ một hủ tục đương thời trong đó hôn nhân do cha mẹ xếp đặt: hôn nhân là cơ hội để các họ tộc kết nghĩa tăng thêm vây cánh, và do đó chỉ chú ý tới lợi lộc vật chất của gia đình chứ chẳng màng tới hạnh phúc của đôi vợ chồng . Và để sự thỏa thuận này được thực hiện nghiêm túc, giáo luật cho rằng sự thỏa thuận cần diễn ra theo thể thức pháp định thì mới có giá trị. Sang thế kỷ 13, quan điểm của tôn giáo lại cho rằng sự thỏa thuận là nguyên nhân tác thành của giá thú nhưng không phải là bản chất của nó. Đối tượng của sự thỏa thuận chính là sự tương giao vợ chồng mang theo những nghĩa vụ và quyền lợi căn bản của hôn nhân, và vì thế thỏa thuận này đã bao hàm cả những vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (tất nhiên là thời kì này chỉ chấm dứt khi một người đã chết bởi hôn nhân công giáo là bất khả phân li). Chính vì vậy nên mới nói rằng khế ước tiền hôn nhân dựa trên cơ sở quan niệm của các nhà lập pháp phương tây (thực chất là xuất phát từ quan niệm của các giám mục) theo họ hôn nhân thực chất chỉ là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự khác ở tính chất long trọng khi thiết lập.
Ngoài ra hôn nhân công giáo có hai đặc điểm là một vợ một chồng và bất khả phân li nên giáo hội không cho phép việc li hôn, dưới thời trung cổ do giáo hội nắm quyền nên pháp luật các nước cũng không cho phép vợ chồng li hôn. Tuy nhiên trong đời sống chung vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn và nhiều trường hợp mâu thuẫn đó dẫn đến tình trạng vợ chồng không muốn chung sống hay không thể chung sống với nhau nữa. Lúc đó cần có một giải pháp để giải tỏa xung đột giữa vợ chồng và việc sống li thân cùng với sự biệt lập về tài sản là cần thiết. Vậy nên việc qui định trước về vấn đề tài sản của vợ chồng là cần thiết để đảm bảo tự do cho cá nhân.
4. Cùng với thời gian, mục đích hướng tới của khế ước tiền hôn nhân trong thời đại ngày nay đã khác xa với thời đại trung cổ, có lẽ nó gần hơn với mục đích của khế ước tiền hôn nhân dưới thời La mã cổ đại - như mọi giá trị khác từ khi bước sang thời kì phục hưng. Hiện nay đã có rất nhiều quốc gia đã qui định về khế ước tiền hôn nhân, không chỉ là các quốc gia theo Thiên chúa giáo mà có cả các quốc gia Hồi giáo (Phi - lip - pin, I – sra - el) hay phật giáo (Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan), không chỉ các quốc gia châu Âu, châu Mĩ mà có cả các quốc gia châu Úc (Úc, Niu – Di – Lân), Á (Ai cập, Sing – ga - po, Nhật Bản), Phi (Nam Phi, Jam – mai – ca)…Có những quốc gia tuy chưa chính thức qui định về khế ước tiền hôn nhân mà chỉ qui định về một dạng thỏa thuận tương đối giống với hợp đồng hôn nhân nhưng được lập sau ngày kết hôn, Trung Quốc là một trong những quốc gia như vậy, xem xét các qui định về tài sản vợ chồng đặc biệt là các qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong pháp luật Việt Nam, dạng thỏa thuận này cũng đang có chiều hướng được thừa nhận.
Các vụ ăn chơi nhảy múa cuối kì 2 năm học 2008 - 2009
3 tháng trước
